Trang

Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

Việt Kiều

Ngày chụp chung tấm ảnh cách đây hơn 40 năm, cả ba con người ấy chẳng ai biết rằng có một ngày mỗi người đều mang theo một tấm như nhau để tối hôm đó cùng mang ra nhìn lại tuổi thanh xuân của mình dạo mười tám đôi mươi nay đã là dĩ vãng, bởi ai nấy đều nghĩ rằng mình đã giữ, nhưng liệu ai kia có còn không.


Họ đã ở chung ngày sơ tán
Tôi là người ít tuổi hơn hai người nhưng cùng học nên chỉ  “tao mày” chứ chưa khi nào phân bậc thứ.Họ đều đã ra nước ngoài để nhìn lại cuộc sống ở đất nước mình, và đã quay trở lại để nhìn về những tháng ngày ở ngoại quốc.
Tôi chưa được như họ một lần trừ vài bữa đi du lịch sang nước láng giềng chưa quá mươi ngày.
Cũng có chút so bì khi nghĩ đến số phận đã chỉ cho mình quẩn quanh như chú gà què bên chiếc cối xay nhặt hạt rơi hạt vãi mà chẳng “ Phú Xuân đã trải, Đồng nai đã từng” như bạn mình, thú thật là thế.Nhưng ông trời đã sắp đặt như vậy rồi, đó là suy nghĩ khi không còn ao ước thêm được nữa lúc tuổi đã “tri thiên mệnh”.
Và chẳng riêng gì tôi, ai rồi khi đến tuổi này cũng thế, có nói ra những điều như là ghen tỵ kia cũng chỉ để thêm gia vị cho câu chuyện bên bàn nước khi trà dư tửu hậu, chứ còn nhìn thấy được nhau, còn" tỵ" được với nhau “ mày hơn tao kém” như vầy là vui lắm rồi.Và, nhờ có tấm ảnh chung ngày ấy, nay chúng tôi mới nhìn lại cuộc đời của mình, của bạn, khi còn gặp lại đầy đủ, khỏe mạnh và minh mẫn, dù rằng niềm riêng của mỗi người chỉ của ai nấy biết nhưng cũng không còn ngại ngần hé mở khi được mất giờ đây chẳng còn đong đếm làm gì.
Anh hơn tuổi cả hai chúng tôi, đó là lý do vì sao dạo đó anh đã có một người con gái trong lòng khi chúng tôi còn ăn chưa no, lo chưa tới, mà giờ đây chúng tôi mới vỡ lẽ về việc anh cưới vợ sớm thế khi chúng tôi còn mài đũng quần trên ghế  đến vài năm sau nữa.Khi họ đã có đến ba đứa con dạo năm 80 của thế kỷ trước, hai thằng tôi lăn lộn cho thêm một miệng ăn đã ườn cả người.

“Trời sinh voi rồi trời sinh cỏ”, chắc cuộc sống của vợ chồng anh còn tệ hơn chúng tôi nữa nên anh chị để lại một đứa con trai lớn và mang theo hai đứa bé lên thuyền vượt biên tìm miền đất hứa khi đứa nhỏ mới bảy tháng tuổi.
Chắc chẳng ai dám so bì khi biết bốn thân phận ấy lênh đênh trên con thuyền đến bảy mươi lăm ngày cùng gần trăm con người khác, dật dờ với hy vọng được sống chỉ với mỗi nắm cơm cho mỗi ngày khi xin được của những người trên bờ cứu giúp.Thượng đế đã thương và cho họ sống sau sự đánh cược sinh mạng  của cả gia đình mình cho.... ngày mai, khi họ đã đến được Hồng Kông.
Thăm lại thày giáo cũ

Đã hơn bốn chục năm qua đi, họ đã có đến sáu đứa con ở Mỹ.Toàn bộ “của để dành”ấy họ không mang về được nữa khi hai vợ chồng quyết định trở lại quê nhà sinh sống những năm tháng cuối đời.
Anh luôn đi trước chúng tôi nhiều việc, và chúng tôi cũng chỉ biết vậy khi việc đã rồi.Anh chị trở lại quê hương, nơi họ đã trao ánh mắt, nụ cười đầu tiên dành riêng cho nhau  ở miền quê ấy.
Tại sao ư?
Thật không dễ có câu trả lời, nhưng cũng không là quá khó khi con người ta chỉ có niềm vui là được chuyện trò, được tự do cho những sở thích riêng mình và không còn lo lắng gì về miếng cơm manh áo.
Tôi chưa đến nước Mỹ bao giờ nên không biết tại sao có người lại rời nước Mỹ khi đã bằng mọi cách để đến, rồi lại trở về khi muôn người còn đang tìm đường tới đó!
Anh trả lời:Ở đó cho người ta nhiều cơ hội với những người đang còn kiếm tìm cơ hội.
Có lẽ đúng như thế chăng?
Anh đã thấy điều đó khi còn trẻ và bằng toàn bộ cuộc đời thanh xuân của mình anh đã có được một cuộc sống yên ổn khi đến tuổi hưu?
Cơ hội!không mấy ai bắt được những điều may mắn tới với mình để đổi đời nếu như chưa khi nào bạn mơ đến nó chăng?
Đã một lần nghe nói đến nước Mỹ không phải là thiên đường mà là chiến trường không tiếng súng.Nhưng có vẻ như là quá nặng nề khi cho rằng nơi đó cạnh tranh thật khốc liệt, dù rằng vẫn vang lên tiếng súng thảm sát bất thường bởi ai đó cũng đều được mang súng khi đến tuổi.
Khi con người ta không còn ý thức được mình đang sở hữu gì, được phép hay không được phép làm gì nữa thì những điều đen tối sẽ không chừa anh được nữa.Vậy thôi!
Điều quan trọng là đất nước ấy cho phép anh được sở hữu những gì là của chính anh và được làm những điều anh muốn trong ý thức không vi phạm đến quyền của người khác.Nhưng cơ hội chỉ đến với những người dám ước mơ và dám đánh đổi vì nó.
Họ đã đánh đổi tuổi thanh xuân và sinh mạng của gia đình mình để có được một gia đình lớn hơn và một cuộc đời yên ổn khi xế chiều.Giờ đây họ hoàn toàn yên tâm về các con cháu của họ bên trời tây, bởi chúng phải tự lo lấy cuộc sống của mình khi cha mẹ chúng đã hy sinh vì chúng và đã mơ ước cho chúng ngày hôm nay.
Với họ, cơ hội giờ đây chẳng còn mấy ý nghĩa nữa, nhưng ký ức và kinh nghiệm của họ về điều đó thật sự còn nguyên giá trị với nhiều người, còn với con cháu họ, tất nhiên là không thể khác được rồi.
"Tôi là Việt kiều và vẫn có quốc tịch Việt Nam".
Anh nói vậy, cười vui về chuyện dù có cả hai quốc tịch anh vẫn không mua nổi chiếc xe máy mang tên" chính chủ", bởi anh chưa có hộ khẩu tại nơi này!

Hội ngộ


Thứ Sáu, ngày 07 tháng 3 năm 2014

Phút cuối của sự đánh đổi

Níu kéo
Cách đây gần hai chục năm, dạo ấy em họ  tôi vừa mới đi xuất khẩu lao động sang một đất nước thuộc lục địa Đen được vài năm, có lần gặp lại vợ cậu ấy ở một thành phố khá lớn, tại  ngôi nhà của cô trên con đường trục của thành phố này, dù nhiều người mơ ước, nhưng chủ nhân của nó lại như không muốn khoe gì về sự tiện nghi, mức hiện đại sang trọng như bao người đang thèm muốn...mà chỉ nói :" Anh chị ơi, em hết cả tuổi xuân với bố con ông ấy rồi!".Cô nói vậy mà vẫn cười như chưa có mất mát hay thiệt thòi gì!
Câu nói như đùa ấy của người phụ nữ hai con, vừa là Giám đốc của một cơ quan xuất nhập khẩu, không có chồng bên cạnh, hàng ngày vừa lo chuyện áo cơm, vẫn chăm chút nuôi dạy,đón đưa hai đứa trẻ ăn học cùng bao nhiêu thứ việc của cả hai gia đình nội, ngoại ...ai cũng cảm thông và cảm phục nữa, nhưng cũng chỉ biết  ủi an  như với bao người khác, bởi cô cậu ấy đã chọn cho mình một cuộc đánh đổi thì chuyện thiệt một đôi điều để được nhiều thứ lớn hơn cũng là thường tình.
 "Thôi, chịu khó vài năm cô ạ, các cháu nó lớn lên, chú ấy về rồi hồi xuân một thể!"
Cũng là một lời đùa vui và mong là như vậy.....
Suốt chừng ấy năm, anh chị em gặp nhau thường, thấy cô chỉ có đôi nét già đi trên khuôn mặt vẫn tươi tắn như dạo còn trẻ.Nay hai đứa trẻ nay đã lớn, cháu gái đã có gia đình riêng với hai sắp nhỏ, cậu con trai út cũng đã hoàn thành đại học và đi làm, mẹ chúng thì cũng đã buông công việc nghỉ hưu được vài năm...
Cậu em tôi vẫn chưa thể về hẳn.
Lần gặp gần đây, nhắc lại lần nói duy nhất về người chồng  biền biệt của cô ấy ngày nào, chợt thấy thời gian sao trôi đi nhanh quá, đến mức không kịp để con người ta níu tuổi trẻ chậm lại một lần!
Nói hình tượng như vậy thôi, chứ làm gì có nhanh hơn hay chậm đi chu kỳ của mặt trời mỗi ngày quanh vòng quanh trái đất này?
Cậu em tôi kỳ này về nghỉ Tết tổ chức mời anh em thân thiết tới ăn bữa cơm chung, gặp mặt đầu Xuân mới.
Dù vẫn biết qua nhiều người là sức khỏe của cậu ấy giờ kém lắm, đủ thứ bệnh của cả người trẻ cũng như già, nhưng khi gặp mặt, mới thấy sự hủy hoại của bệnh tật theo thời gian trên thân thể con người ta thật ghê gớm. Hình như lũ bệnh tật ấy đã chọn vị bác sỹ này để thử thách hay trả thù vì đôi bàn tay vàng kia đã đánh gục chúng trên nhiều thân thể khác và kiếm được không ít tiền nơi đất khách quê người.
Người vợ vui vẻ, bình thản như vẫn vậy hàng chục năm nay.Bữa cơm xum họp thật lâu rồi mới có cũng sung túc, ê hề và suôn sẻ.Chỉ có chuyến đi sang Quảng Châu sắp tới của cậu em tôi vì nhiều căn bệnh đã tự chữa bằng Tây y nhiều năm, nay như chúng quay lại muốn cười ngạo nghễ với vị bác sỹ này - là mối quan tâm của nhiều người.
Dao sắc không gọt được chuôi mà anh!
Cái giọng lúc nào cũng như không có chuyện gì đáng lo ấy không thể lấp được cái thân thể nay đã xụm xọ và nước da xuống sắc ghê gớm vì dùng thuốc tây nhiều năm.Vị bác sỹ này đã suy thận độ ba, đó là kết quả xét nghiệm của thày thuốc bên Singapo qua đợt đi khám gần đây, còn như ở nhà thì mới chỉ là độ hai thôi, nên không lo sao được!
Nguyên do thì chính người bệnh hiểu rõ nhất rồi.Thời gian trôi đi đâu quay lại được, nên tuổi tác song hành cùng sự lão hóa là đương nhiên.Nhưng cũng quỹ thời gian ấy anh lao vào làm việc kiếm tiền đến quên mình thì chả cỗ máy nào tái sinh cho được sự cường tráng hay kìm lại được sự hủy hoại trên thân thể dù đắp đầy thuốc men đến vậy.
Chưa nói đến chuyện tổn hao tiền bạc để chi tiêu trong nhiều quan hệ khác, tổn hao trong nhiều đêm mất ngủ để toan lo nhiều sự vụ làm ăn. Những hao mòn lúc đầu tính theo tháng theo năm, mỗi ngày một chút, đến nay tính đến từng phút, từng giờ...
Có những điều không thể quên đi

Em hết tuổi xuân từ lâu rồi chứ anh!
Người vợ hôm nay nhắc lại lời này với chúng tôi mà không còn cười như gần hai chục năm trước đây nữa.
Sự thật ấy không còn là chuyện đùa.
Sự thật ấy cũng không thể đong đếm được như những con số trong từng cuốn sổ cho từng năm cô ấy ghi lại chi ly các khoản tiền về, tiền đi trong chừng ấy năm, để người chồng "yên tâm" mà biền biệt kiếm tiền nơi đất khách cách vợ con đến mười mấy giờ bay.
Sức hút của những đồng đô la có thật sự mạnh mẽ đến như vậy không?
Ban đầu là thế, không sai!
Khi từ đất nước này ra đi với hai bàn tay trắng, thử hỏi ai nào có thể cầm lòng trước những tập tiền xanh chưa được thấy một lần chỉ qua một ca mổ thông thường, nhưng sẽ được trả chưa đến vài trăm VND nơi đất Mẹ?
Lúc đã có tiền vốn,lại  không thể dừng lại ở khuôn viên bệnh viện hay bó buộc trong tấm áo bác sỹ.Tiền lại tiếp tục sinh sôi, biến hóa cùng những mối làm ăn khác, rồi cùng cả những mối tình khác nữa.
Những đồng tiền xanh chuyển về ngày một nhiều như làm cách xa thêm nữa quãng đường quay về nhà với vợ con của anh. Và mỗi ngày mỗi phút, đã vô hình hút đi sức lực của anh bằng chính sự đam mê từ nó, tựa như những mối tình đã rút đi thật ngọt ngào,êm ả từ trái tim anh tình yêu chồng vợ, cha con bằng chính những đắm say mê muội khi người đàn ông ấy xa vợ con, tài giỏi kinh doanh, tay dao mổ điêu luyện,nhiều tiền của  ở giữa lục địa thật sẵn tiền và sẵn tình.
Người vợ chỉ nhận ra điều này khi thấy người chồng mình có biến chuyển suy sụp về sức khỏe nhưng dù khuyên giải mấy anh cũng lần lữa không về hẳn bằng muôn vàn lý do trong công việc làm ăn và kinh doanh.
Cô không đủ lý lẽ và sức mạnh để kéo anh ra khỏi vòng quay của công việc đã đành, vì từng ấy năm số tài sản của gia đình bằng tiến bạc của anh chuyển về không phải ít, nhưng cũng vì thế mà cô cũng không thể kéo anh khỏi những mối tình bắt nguồn từ chuyện kết mối làm ăn, bởi kinh doanh hình như cũng phải hợp duyên mới thành, còn cô chỉ có cơ quan, đoàn thể và gia đình con cái,còn chả có bao nhiêu thời gian dành riêng cho mình.
Nhắc lại những tháng năm vò võ ấy với người chồng mình, cô nhận được câu trả lời:
"Từng ấy năm tôi đi vì mẹ con cô, vì gia đình này, chỉ mình cô thiệt thòi sao?"
Anh đã nói thế khi cô nói trong nước mắt, rằng muốn anh trở về nhà khi các con đã lớn, kinh tế đã đủ đầy.
Có lần cô quyết sang thăm chồng bên xứ người bằng tiền của mình làm thị thực tốn đến mấy ngàn đô để được ở lâu dài hơn hạn định của visa thông thường, bởi anh không hề muốn cô sang và ở  lâu đến thế!?
Cô muốn được ở gần bên chồng mình vì đã quá một phần ba đời người và đã hết tuổi xuân vò võ một mình nuôi dạy con cái cho anh, chăm sóc và chung lo hậu sự cho cả song thân  anh nữa,  lúc cô đã buông tay khỏi những chức vị cũng không thua kém nhiều người khác, dù không có anh bên cạnh đỡ đần an ủi.
Với anh thì không thể được.
Bởi trong con mắt anh, cô là người vợ, người mẹ  thì thật tốt, thậm chí anh còn nói là gia đình anh còn mang ơn cô nữa, nhưng chuyện làm ăn thì cô không thể cùng anh, mà với anh giờ đây không thể không làm ăn, dù rằng sức khỏe bản thân đang là mối nguy lớn.
Anh không dừng bởi anh đang quen làm việc và kinh doanh, không có nó anh không biết làm gì để sống cho ra sống, ngày ngày chỉ ngồi chơi chờ cơm và thuốc từ  vợ thì còn nguy hơn nữa với tốc độ tiến triển của bệnh tật như hiện tại. Anh nói, anh muốn làm việc để quên đi bệnh tật, để tiếp tục sống hữu ích cho gia đình hơn.
Có thật như vậy không?Có hoàn toàn như vậy không?
Cô không tin rằng đó là lý do duy nhất để anh không về với mẹ con cô.
Vẫn là vợ anh, nhưng từ lâu rồi, điều đó chỉ còn trên tờ hôn thú nay đã ngả màu và bị dán nhấm làm cho nham nhở.
Không hiểu sao, mỗi lần cất đi những đồng tiền anh gửi về vào két sắt, cô đều nhìn thấy tờ giấy ấy,dù rằng những đồng tiền kia nằm ở đó không lâu, bởi chúng lại sớm phải ra đi để sinh sôi nảy nở, còn tờ giấy đã ngả màu đó vẫn chỉ nằm yên một mình, cam phận!
Những lời lẽ trong Email  gửi cho người đàn bà ấy, tình cờ cô coi được trên laptop của anh, dù đã được chủ nhân xóa đi, cô vẫn thuộc lòng qua từng ấy năm, bởi cô chỉ để cho một mình đau đớn mà không hề sẻ chia với ai, kể cả với anh chị em ruột .
Những lời nhắn tin nhân ngày Valentin của anh cho người đàn bà ấy khi cô đang cùng anh đi chữa bệnh ở nước ngoài cũng không hề sai đi một chữ trong lòng cô, bởi ngày hôm đó chỉ có hai vợ chồng, cô chờ ở anh một câu đùa vui thôi như thủa mới yêu nhau hay mới là chồng vợ, nhưng chỉ là sự trống rỗng lạnh lùng, vô cảm.
Luôn là :"Anh hôn em" ở cuối mỗi bức thư như thế cho người đàn bà ấy.
Còn với cô ư?
....................
Thật lâu rồi hai con người ấy không còn cảm thấy sự ấm áp nơi thân thể của nhau nữa.Chẳng lẽ những đồng tiền xanh kia lại có thể làm mất đi cảm xúc giữa hai vợ chồng mỗi lúc chạm đến da thịt của nhau, tựa như chúng đã là liều thuốc làm liệt tê để hai trái tim kia không còn chút nào rung động?
Lần cô bị cảm lạnh rồi rét đến run người khi sang thăm anh bên đó, đắp đến hai chiếc chăn vẫn còn chưa hết rét.Cô chỉ biết kêu lên: "Anh ơi em rét quá".Nằm sát bên nhau, cô những tưởng anh ôm lấy cô lại một lần lúc ấy, vẫn không hề.
"Đi lấy trà gừng mà uống" là lời anh khi ấy, và chỉ vậy mà thôi!
Sao anh có thể về với cô và các con anh nữa, khi anh không thể rời miền đất đã cho anh nhiều tiền bạc, cho anh cả những mối tình mà  nếu không có họ, anh còn có thể như thế với cả gái bản xứ.
Sao anh còn ấm áp bên cô khi cô khuyên anh hãy quên họ đi và cô đã tha thứ cho anh nhưng anh chỉ có thể quên khi  đầu không còn trên cổ, anh đã nói như vậy!
Sao anh có thể vui đùa cùng vợ con hồn nhiên và ấm cúng khi  những đứa con anh đều biết rằng anh đã bỏ rơi mẹ chúng không chính thức nhưng lại đau đớn bội phần, đến  mức những người con vì quá thương đã phải khuyên mẹ mình hãy sống cho bản thân đi dù phải tìm lấy nguồn vui khác thay cha mình?
Sao anh có thể trở về ngôi nhà ấy, nằm trên cùng chiếc giường kia, khi cô đã hỏi rằng: Nếu cô cũng như anh với người đàn ông khác, anh chỉ biết trả lời: tôi cũng phải chịu thôi?
Người em họ tôi đã có gần nửa đời người nơi đất khách như vậy.
Còn vợ anh cũng từng ấy năm nuôi dậy cho anh hai đứa con trưởng thành và ngoan ngoãn, từng ấy năm vẫn giữ cho anh có một người vợ đảm đang, chung thủy nơi quê nhà.
Anh đã đem từ xứ người về cơ man là tiền của cho gia đình.
Cô cũng đã dùng những đồng tiền ấy để nuôi gia đình và tích lũy cho con cái anh không hề phí phạm.
Họ đều khéo kiếm và sử dụng tiền bạc cho gia đình, nhưng lại mất nhau vì chính thứ đó.
Bây giờ, ai có thể mang lên cân cái được và cái mất của gia đình họ?
Đã ở những ngày của tuổi già, họ nhìn lại nhau, nhìn lại mình, nhìn lại quãng đời đã yêu thương nhau, hy sinh vì nhau, vì cái gia đình chung ấy trong nghèo khó, và nay lại đánh mất nhau trong giàu có.
Họ sẽ còn ước muốn điều gì khi đã được nhiều như ý muốn và đã có nhiều thứ ngoài ý muốn?
Anh ạ, không còn gì để níu kéo được nữa.
Các con em đều bảo: Mẹ đã hy sinh cho gia đình này nhiều quá rồi, cho chúng con  nhiều quá rồi, giờ đây không phải lo nghĩ gì nữa, mẹ hãy quên đi, chôn đi tất cả để sống nốt những ngày tiếp theo cho thanh thản cùng con cháu chúng con.
Chúng nói đúng, phải không anh, nhưng làm sao có thể giản đơn và nhẹ nhàng như thế được?
Từng ấy năm em chỉ một lần nói với anh về tuổi thanh xuân đã mất đi của em ngày ấy, ai ngờ nó mất đi vĩnh viễn cũng từ đấy.Em không tiếc gì, nhưng em buồn vì đã được trả công như thế, được đáp đền như thế mà lại không thể kể cho ai, than thở cùng ai.
Trong mắt mọi người, anh ấy vẫn tuyệt vời, bởi anh ấy vẫn là người còn đầy đủ gia đình, vợ con, giàu có và thành đạt.Em đã cố chịu đựng, che dấu từng ấy năm để anh ấy không bị suy suyển hình ảnh của mình trước họ hàng và bè bạn, nhưng trong chiếc chăn chung ấy, có những con rận không sao giết đi được anh ạ.
Chỉ một điều em còn nghĩ đến là, nếu anh ấy không  sám hối lại để các con em lấy đó làm bài học cho mình, một ngày nào đó, có thể lắm chứ, chúng sẽ thấy rằng những chuyện cha chúng làm trong cuộc đời anh ấy bình thường như đương nhiên phải thế, và sẽ lại có những số phận như em cũng là đương nhiên mà thôi.
Bố em, dù không biết tường tận chuyện gì, nhưng trước ngày lâm chung, ông đã nói với em rằng: "Bố biết con  giàu có hơn anh chị em nhưng lại khổ nhất nhà."
Em chỉ mong anh ấy, hiểu  được như ông, không phải cho em, mà cho các con anh ấy.





Chủ Nhật, ngày 02 tháng 2 năm 2014

Tiếng cồng chiêng trong giờ thánh lễ

Nhà thờ Thành phố Ban Mê Thuột

Cao nguyên.
Miền đất này ông từng ước ao lâu rồi để được đặt chân tới một lần, vậy mà nay mới có dịp toại nguyện.
Từ Hà Nội, bay đến Ban Mê Thuột, ở lại một đêm, hôm sau bằng ô tô đi hơn hai trăm cây số nữa, ông được đặt chân đến một miền sơn cước của vùng đất Đăk Năng, Kon Tum nhiều người dân Ba Na hơn người Kinh.
Nơi đây có một Thánh đường.
Chiếc xe bốn chỗ sau khi được lăn bánh một quãng dài đường bê tông đang làm dở dang, còn phải vượt qua vài cây số đường gồ ghề bởi những rãnh, hố trên mặt đất bị nước mưa lâu ngày xói mòn, mới dừng lại trong một chiếc sân rộng với một ngôi nhà , mà nếu không có cây thánh giá mảnh mai vươn trên nền trời kia và bức tượng Đức Mẹ bồng Hài Nhi ở gần cột cờ thì khó nhận biết đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi này.
Giáo xứ  Plei- JODRAP
Người đàn ông trung niên đưa ông cùng tới đây có công chuyện với vị linh mục là chánh xứ vùng này.Họ xưng hô với nhau là cha-con, nhưng lại như hai người bạn thân thiết.
Ông là khách, không có tín ngưỡng nào cả, và người lái xe cũng vậy, nên khi đặt chân tới Thánh đường này, dù đơn sơ,song được gặp người đứng đầu tôn giáo của một vùng,ông  không khỏi có chút ngại ngần dù rằng sự tò mò về tín ngưỡng của một miền đất nhiều người dân tộc đã khiến ông vừa hồi hộp vừa thích thú như lần đầu tiên đi khám phá trong một khu rừng nguyên sinh huyền bí mà  đầy hấp dẫn.
Ông được cùng ngồi ăn với vị linh mục ấy, điều mà ông chưa bao giờ nghĩ tới, bởi trước đây, trong suy nghĩ của mình, ông coi họ như từ một miền xa lắm tới đây, có chung tiếng nói mà không dám gần, muốn chuyện trò mà không biết bắt đầu từ đâu, vừa xa vời, vừa  huyền ảo, huyễn hoặc.
Đội cồng chiêng
Từ bữa ăn đơn sơ đến những câu trò chuyện thân tình mà đầm ấm, chan hòa, đã làm ông không còn xa lạ với cánh rừng đầy huyền bí như khi vừa đặt chân tới cửa.
Trong phòng ăn cũng là phòng sinh hoạt chung của nhà thờ ấy có đến mười mấy chiếc chiêng to nhỏ treo thành một dãy thứ tự trên tường.
Cũng là lần đầu ông được gần những chiếc chiêng đến thế, được đặt tay lên từng chiếc chiêng đồng, dù nghe mát lạnh nơi bàn tay bởi thời tiết mùa đông cao nguyên nhưng lại cảm thấy rất rõ sự mênh mang hùng vĩ của miền đất này qua từng đường vân trên mặt những nhạc cụ truyền thống mà với ông vẫn còn huyền bí ấy.
Sau giờ Thánh lễ dành cho người Kinh, ông được dự một Thánh lễ riêng cho người dân tộc.
Những người đàn ông, đàn bà Ba Na tới Thánh đường cùng những đứa con nhỏ trên lưng hay đeo chúng trước ngực bằng những tấm vải thổ cẩm nhiều màu sắc, nhiều chủng loại nhưng đều thấy ở họ sự nghèo túng, man sơ, nhưng những ánh mắt,những gương mặt thân thiện, nhẫn chịu, lại làm ông trở lại cảm giác như may mắn đang được ở trong một khu rừng thiêng ít người đặt chân tới.
Thanh niên, thanh nữ thì trang phục còn đơn sơ nếu không là quá xoàng xĩnh, nhưng đầu tóc thì thật gọn gàng dù có người vẫn đi dưới chân những đôi dép không còn lành.
Những đứa trẻ thì đủ kiểu, hầu hết là  chân trần, đen đúa như chưa từng rửa một lần, mặt lấm lem nhưng thật khỏe mạnh, rắn rỏi.Trong giá rét và gió lùa chúng chạy nhảy chơi đùa như không hề có giá lạnh, dù mặt thì đỏ lên và nứt nẻ không rõ vì lâu ngày không rửa hay do hanh khô hoặc cả hai.
Các bà mẹ có con quá nhỏ thì chỉ đứng ngoài sân, quấn bọc chúng trong những tấm chăn thổ cẩm đủ màu sắc và nhiều kích thước, vì lo bất chợt chúng khóc sẽ làm mất đi sự trang nghiêm của giờ lễ dâng mình Thánh Chúa.

Đội  nhạc chiêng trong Thánh Lễ
Khi vị linh mục cất lên lời giảng bằng tiếng dân tộc, ông đã xúc động thật sự, không phải vì giọng nói trầm bổng của Ngài, càng không phải vì nội dung câu chữ,bởi trước đó ông cũng đã hiểu bài giảng hôm nay nói đến điều gì  qua giờ lễ trước, mà ông như đang được dự một thánh lễ ở một nơi chỉ có mình ông là người ngoại quốc nhưng vẫn hiểu được câu chuyện qua lời Thánh Kinh về bao điều thiết thực trong đời sống hàng ngày của mỗi thân phận đang sinh sống trên trái đất này.
Rồi tiếng trầm hùng của dàn cồng chiêng ngân lên cùng điệu múa, lời ca do các em nhỏ trình diễn  trong buổi sớm mai lành lạnh, lan đi từ thánh đường này, tất cả khiến ông như đang ở một miền đất với những người dù chưa hề quen biết , nhưng lại thấy gần gũi như đã từ lâu rồi.
Ông đã nghe nói nhiều về tôn giáo, nhưng lần đầu ông biết rằng: tôn giáo, thường hiểu rằng đó là chuyện quan hệ  với thần linh.Một người có tôn giáo nhận biết rằng trong sức mạnh đã tạo dựng họ và tạo dựng thế giới có một cái gì là thần linh, một sức mạnh mà họ phải lệ thuộc vào và họ phải hướng tới.Trong lối sống của họ, họ sẽ tìm cách làm đẹp lòng thần linh và tỏ lòng tôn kính thần linh.
Với chuyện của loài người, người ta thường bảo rằng phải hiểu biết để yêu thích chúng, còn với chuyện thần thiêng,phải yêu mến mới nhằm hiểu biết về họ.
.........................
Sau bữa tối,ông ngập ngừng:
- Thưa linh mục, Thiên Chúa là....
Vị linh mục nhìn ông với ánh mắt như cười ,thật ấm áp:
- Thiên Chúa là tình yêu thôi.Còn tình yêu thì đơn giản quá rồi, chú có thể định nghĩa bằng nhiều cách, nhưng có một giải nghĩa rất đơn giản, tình yêu là tìm được niềm vui trong sự tốt lành;sự tốt lành là lý do duy nhất để yêu, và yêu là muốn làm điều tốt lành cho người ta mà thôi.
Ông tâm đắc: Vâng, Thiên Chúa chỉ muốn làm điều tốt lành cho mọi người.Nhưng...có giới hạn nào cho tình yêu đó không, thưa linh mục?
- Giới hạn của tình yêu đó là ...yêu không giới hạn.Chú có biết không, Kinh Thánh là thư tình của Thiên Chúa gửi cho loài người đó.
Và nguồn vui của  Ki tô hữu là biết chắc rằng họ được Thiên Chúa yêu thương, yêu thương thân mật bởi Đấng Tạo Hóa...yêu thương bằng một tình yêu đam mê và trung tín, một tình yêu lớn hơn là những bất trung và tội lỗi của ta, một tình yêu luôn tha thứ.
Vũ điệu trước ban thờ Chúa
Lời của vị linh mục như đang kể cho ông câu chuyện về đôi lứa nhưng lại như không có thật, mà lại là không thể khác hơn nếu đúng như trái tim mách bảo.
- Thưa linh mục, nghe thì thấy thật gần gũi nhưng chưa thể hiểu hết những điều đó...
- Chú thấy không, thế giới này không thể nào tự có một nguồn gốc hay mục đích.Con cái phải do cha mẹ, cha mẹ lại bởi ông bà...., ông bà đầu tiên phải có ai sinh ra...
Nên trong tất cả mọi hiện hữu, vẫn còn những gì mà người ta không thấy được.Trật tự này, sự tốt đẹp và cả sự phát triển của thế giới này, hướng cái nhìn đến một cái gì đó vượt quá chúng ta.
Mọi con người đều mở ra cho sự thật, sự tốt , sự đẹp.Họ nghe tiếng lương tâm trong lòng, tiếng đó thúc đẩy họ đến sự lành và ngăn họ khỏi sự dữ.Ai có khôn ngoan để theo dấu vết đó là thấy được Thiên Chúa thôi.
Người lái xe chỉ im lặng lắng nghe từ khi đặt chân tới đây, giờ cũng kể lại câu chuyện mà anh được biết: người bạn anh là con một gia đình công giáo, vì hoàn cảnh, anh ấy không được sống cùng gia đình từ nhỏ, vậy mà khi lớn lên, anh đã tự tìm về chẳng những nguồn gốc gia tộc mình, mà còn tự tìm đến tôn giáo mà mình đã không hề được dạy bảo, và kỳ lạ hay do một nguyên nhân gì đó, sau đợt học giáo lý, anh đã chọn cho mình tên vị  thánh, mà khi về quê quán hỏi ra mới biết cả gia đình anh tất cả những người đàn ông đều mang tên vị thánh này.
Ơn gọi.
Ông như đã nghe thấy hai tiếng đó trong buổi thánh lễ từ vị linh mục gần lục tuần nhưng còn tráng kiện, có giọng nói trầm ấm, hấp dẫn,thu hút cùng gương mặt thật nhân từ, ánh mắt khi nào cũng như cười .
Vị Chánh xứ ấy, nghe người ta kể, đã  bỏ lại những ưu ái từ gia đình ở một đất nước văn minh bậc nhất thế giới để dừng chân trên miền đất gian khó cùng những người dân được sinh ra từ đấy và từ nhiều nơi khác đến.
Không chỉ thế,các miền đất Người đã dừng chân với sứ mệnh được trao ban, đều là những nơi nghèo khó, sau ít năm là đường mở tới, ánh điện sáng lên trong từng căn nhà còn bé nhỏ, đơn sơ. Cùng các chính sách và nguồn bổ trợ,nhờ tiếng nói của Ngài tới chính quyền địa phương cấp tỉnh,cấp thành phố, tới nhiều đoàn thể, bộ mặt các  bản làng dần bớt đi vẻ hoang sơ và dân chúng được mở mang cả về lối sống, cách làm ăn và đối nhân xử thế.
 Rồi Ngài lại chuyển đến những miền heo hút hơn, gian khó hơn, qua những lời giảng giải không chỉ ở những giờ Thánh lễ, mà còn bằng cách sống chan hòa với những người dân như đã bị bỏ quên nhiều năm,trong  khi sự văn minh đến với loài người nơi đô thị đổi thay từng giây, từng phút.
Vị linh mục lại giúp cho những người con được sinh ra từ đây, hoặc đã chọn nơi này là quê hương mới, dần ổn định cuộc sống với một đức tin không bao giờ cũ : người với người sống để yêu nhau, Thiên Chúa  không có gì xa lạ, chính là tình yêu đó.
Qua cách đối xử với vị Cha xứ trong bữa cơm gia đình người bản địa, những câu đùa vui hóm hỉnh và nhiều ý nghĩa như anh em trong nhà, hay sự trân trọng của con cháu họ dành cho vị linh mục, ông ước ao được như con người ấy, thèm được sự chan hòa cùng cộng đồng những người dân còn khó nghèo nhưng chân thật, còn man sơ song đang cần sự chở che và nâng đỡ  trong cuộc sống cơm áo hàng ngày và cả trong đời sống tinh thần.
 Ở tình thương yêu ấy, ông còn thấy có cả sự tín thác vào người đã mang đến cho họ một đức tin, không chỉ từ những câu răn dạy mà bằng chính sự hy sinh thầm lặng và bình thản của người đã và đang gìn giữ, nuôi dắt đức tin này.
Người Cha tinh thần ấy đã sống không chỉ như định nghĩa về sứ mệnh ông đã chọn, mà ông đã sống để minh chứng cho định nghĩa ấy.
Cùng các em bé trong sân nhà thờ

Vị linh mục khuyên nhủ người dân đưa tiếng chiêng vào thánh lễ để gìn giữ cho dân tộc này những âm thanh từng có từ ngàn xưa do tổ tiên họ đã tạo dựng và gìn giữ đến hôm nay, trước những đổi thay của thế giới hiện đại.
Ông tự học tiếng của họ để giảng giải ý nghĩa của đức tin cần có và trò chuyện hàng ngày với người dân đề xóa dần đi mặc cảm của chính họ về dân tộc mình, về cả sự thiếu thốn, nghèo nàn và man sơ nữa.
Ông không còn là của riêng ông, ông đã là người con của từng gia đình, làng bản, của cả vùng đất này, dù được họ gọi là người Cha tinh thần cho những dân tộc nghèo khó của miền đất trù phú mà vẫn còn hoang sơ không biết đến bao giờ.
Tiếng vọng  âm vang của dàn chiêng đồng cùng những vũ điệu đơn sơ mà chắc khỏe, huyền bí của các em gái, em trai trong những giờ Thánh lễ đã giữ lại, giành giật với thời gian, với cả sự lấn át của thời đại văn minh điện tử, kỹ thuật số, cái bản sắc từ ngàn xưa của cao nguyên đại ngàn.
Những đồ dùng hay thiết bị tiện nghi có thể ào ạt đem đến sự thỏa mãn nhất thời và gấp gáp, nhưng cũng lại nhanh chóng làm người ta quên đi những gì đã có cả từ ngàn năm trước.
Vị linh mục đã chọn cách đi không đối đầu với sự văn minh mà bằng chính sự văn minh này để lưu lại  được những giá trị  tinh thần cho dân tộc và tôn giáo cần gìn giữ, tôn thờ.
Nét Mùa Xuân trong Thánh lễ

Tiếng âm vang trầm hùng, thánh thót của dàn chiêng đồng, hòa trong muôn giọng hát Thánh ca bằng ngôn ngữ dân tộc cùng các vũ điệu riêng của mình với trang phục chỉ nơi này có,quyện với tiếng đàn ooc- gan điện tử do chính những em bé chân còn đi đất đầu còn để trần tấu lên, những màn hình rộng chiếu lên lời bài hát...đã làm cho hồn dân tộc, niềm tín thác vào Thiên Chúa  và sự văn minh hòa quyện với nhau giữa nơi bản làng cao nguyên lộng gió, đầy nắng cùng bụi đỏ.
Hai ngày sống nơi giáo xứ Plei- Jodrap qua nhanh,ông đã có ý nghĩ sẽ trở lại miền đất này một ngày gần nhất khi rời chân từ đây.
Nhưng sẽ làm gì?
Liệu có ai như vị linh mục ấy, quen được bao khó khăn, thiếu thốn và từ bỏ  những gì đang có: Gia đình, tiện nghi, sở thích...?
Ơn gọi!
Ông đã hiểu trong tín ngưỡng tâm linh không thể thiếu hai tiếng đó vang lên từ trong trái tim mỗi con người.
Ông chưa thể và có thể không bao giờ làm được những điều đã nghĩ trên suốt chặng đường trở lại thủ đô Hà Nội, nhưng tiếng chiêng trong giờ Thánh lễ hiếm hoi ông được chứng kiến đó, cùng những giờ phút được ở bên vị linh mục chánh xứ  vùng cao nguyên này, sẽ không chỉ là những kỷ niệm khó quên, mà tiếng ngân ấy đã như một lời gọi từ cánh rừng, nơi mà khi mới đặt chân tới ông thấy thật ngỡ ngàng,huyền bí nhưng lúc cất bước đi lại thấy mình như đang lỡ hẹn, như chưa trọn vẹn một điều gì....
( Nhân sinh nhật Joseph Nguyễn )




Thứ Sáu, ngày 31 tháng 1 năm 2014

Chuyến tắc - xi đầu năm

Ngày mồng một Tết đã sắp qua khi ông từ nhà người quen trở về.
Đường phố lên đèn từ lâu, nhưng cũng chưa quá muộn.Chỉ có tiết trời vẫn lành lạnh dù đã ấm áp hơn nhiều Tết trước đây, và không có mưa phùn.
Coi đồng hồ mới đến 7 giờ hơn, vậy mà đường phố vắng tanh, chỉ có ít ô tô và xe máy như đều hối hả trở về nhà ngày đầu năm, chẳng thấy ai đi bộ như ông ra bến xe buýt, phương tiện đi lại hàng ngày của ông.
Chợt nghĩ đến và lo lắng: Thôi rồi, hôm nay mồng một Tết, lái xe buýt họ được nghỉ sớm là cái chắc, vậy mà không lo xa để đi sớm về sớm hơn, mệt rồi.
Đồng lương hưu còm cõi cùng tuổi tác đã khiến ông đã mấy năm nay  sử dụng phương tiện này để đi công chuyện thì ít, thăm thú bè bạn và sinh hoạt các câu lạc bộ thì nhiều trong cái thành phố với mật độ xe cộ ngày càng như  đông đúc và hỗn độn hơn này.Ông đi  xe buýt thành quen đến nỗi ngại đi xe máy, chỉ có điều, khi lên xe mỗi lúc được các cháu nhường chỗ: Ông ơi, ông ngồi đi, là nỗi buồn không thể nói ra cùng câu "cảm ơn cháu "kia lại tới: Mình đã già mất rồi!
Niềm vui cũng như mọi nỗi buồn nhè nhẹ như vậy rồi cũng quen đi,và đôi khi trên những tuyến thường đi nhiều, anh soát vé lại còn cười chào ông khỏi cần thấy ông rút chiếc vé tháng đã được ép platic cẩn thận như tấm chứng minh thư luôn phải mang theo bên người.
Nhưng bây giờ là không sử dụng tấm vé ấy được rồi.Tại bến xe buýt gần nhất chỉ có đôi ba người như ông đang ngơ ngác, ngóng ngơ và hỏi nhau về chuyến xe cuối cùng có còn không.
Đã tám giờ tối.Chẳng ai còn hy vọng nữa và đều tính đến chuyện phải dùng phương tiện khác để đến  nơi cần tới .
Một người phụ nữa đã đứng tuổi đội chiếc mũ len sẫm màu đã ở bến xe này trước ông có vẻ nóng lòng hơn với chiếc điện thoại trong tay cùng chiếc túi khoác trên vai, đi lại liên hồi vẫn không ngừng ngước về phía xa,gọi điện , hy vọng...
Dừng lại bên cạnh ông: Bác ơi, bác về tận đâu ạ?Em vừa gọi 1080 rồi, giờ này chả còn xe nữa đâu, em đứng đây nửa tiếng hơn rồi, chẳng có chiếc nào nữa.
Ông trả lời: Tôi về qua cầu CD cơ, hết xe buýt rồi à? thế thì phải đi thứ khác mà về vậy thôi!Thế cô về đâu?
- Dạ, em về cũng gần đó bên này sông, rồi còn đến bệnh viện Hồng Ngọc nữa.
- Giờ này còn tới bệnh viện?ông hơi bất ngờ
- Em đang điều trị ở đó, còn mấy mũi tiêm nữa, hôm nay ngày Tết cứ trốn về cũng không sao ạ.Hay em với bác đi chung, rồi bác đi tiếp sang bên sông cho đỡ tốn?Em vừa hỏi xe ôm họ đòi một trăm ngàn cơ.
Ngại ngùng một chút, nhưng lại là hợp lý cho một quãng đường xa như vậy nếu khoản tiền này được chia cho hai người  khi chả còn phương tiện nào tốt hơn tắc xi.Ông bằng lòng.
Chiếc xe được vẫy dừng lại do một thanh niên còn rất trẻ lái.Ông nhường cho người phụ nữa ngồi ghế trên sát cậu tài xế và rất hay vì người phụ nữa này chỉ đường luôn cho người lái tuyến đi ngắn nhất tới nhà cô.
Cậu tài xế vừa lái xe, vừa nghe người phụ nữ chỉ đường, vừa trả lời điện thoại gọi tới, rồi lại vừa nhắn tin cho ai đó: Cô chỉ đường nhé, đường vào phố cổ cháu không rành đâu, cháu toàn đi đường xa, tuyến dài thôi.
- Được rồi, cứ theo cô, đường như vậy là gần nhất.Thế cháu quê tận đâu?
- Cháu quê Quảng Ninh, mai mới được về nhà.
- Thanh niên như vậy là chịu khó rồi, ngày Tết thu nhập chắc cũng khá hơn? Ông góp chuyện.
- Dạ, cũng bình thường thôi ạ, nhưng được cái đường thông thoáng, dễ đi hơn nhiều ạ.
Khi đi qua chùa Quán Sứ, xe phải bò từ từ vì đông người đi lễ đầu năm.Mùi khói hương ngào ngạt quyện vào bầu không khí ngày xuân thật ấm áp cùng tấp nập người ra vào nơi cửa ngôi chùa lớn nhất này.
- Lễ chùa thì người ta đi lễ cả ngày cũng được, còn bên kia chỉ có giờ thôi.Bất chợt người phụ nữ lên tiếng.
Ông như thấy có điều chi quen thuộc: Thế cô bên Công giáo à?
- Vâng, bên em chỉ lễ theo giờ ở nhà thờ thôi, chứ không có cả ngày như bên này ạ.
Ông chợt thấy vui vui trong một tối đầu năm như hôm nay:Thế thì ta là đồng minh rồi!Lại có duyên đi cùng xe nữa chứ, hay thật nhỉ?
- Bác cũng bên công giáo ạ?Tên thánh của bác là gì, em là Katerina?
- Tôi là Vincen, kêu Vĩnh Sơn cũng được.
- Vui thật bác nhỉ, chẳng ngờ đầu năm lại tình cờ vui thế!Thôi dừng lại cháu ơi, cho cô xuống đây, rồi cháu chở bác đây đi tiếp nhé, bác cho em gửi tiền lát bác trả hộ cho em .
Vừa nói người phụ nữ vừa đưa cho ông tờ năm mươi ngàn, đồng hồ tính tiền trên xe chỉ con số 85.000đ.
- Mà bác cho em số điện thoại nhé, đầu xuân vui quá bác ạ, giờ em vào bệnh viện luôn đây.
- Tôi có dùng điện thoại đâu cô, lách cách lắm, mà mắt mũi kèm nhèm, khó dùng lắm.
- Thôi ạ, thế bác về nhé, chúc bác năm mới bình an, gặp nhiều may mắn .
- Hôm nay là may nhiều rồi còn gì, chúc cô mau ra viện nhé, chào cô!

Người phụ nữ trước khi đóng cửa xe quày quả qua đường còn nói với tài xế: Cháu đi đường này ra Chợ Gạo cho gần rồi lên cầu đưa ông qua sông nhé!
Chiếc xe lăn bánh, tiếp tục đưa ông về nhà.
Từ đây về nhà ông chỉ qua một chiếc cầu bắc qua con sông Cái mùa cạn nước.
Dù sông đâu còn mênh mông nước, nhưng chiếc cầu vẫn phải cho tới tận bờ bên kia mới đủ dài.
Cầm trên tay tờ tiền của người phụ nữ đưa chung chi chuyến tắc xi ấy, ông thầm trách mình đã không cho cô ấy số phone, nhưng lại thấy mình đã không cùng xuống xe một lúc mà đi tiếp thêm một quãng nữa để về ngôi nhà của mình là hợp lẽ.
Tất nhiên là phải bỏ thêm tiền.
 Còn đồng tiền kia,.... ông giữ lại, với seri BU 04870709.
Chợ hoa Xuân Giáp Ngọ






Thứ Hai, ngày 30 tháng 12 năm 2013

Giao thừa năm 2014

Gần bốn mươi tuổi rồi anh mới có một ngày như vậy ở Hà Nội, giữa một mùa đông thật giá lạnh nhưng lại đang như ấm lên bởi chỉ vài tiếng nữa thôi đất trời sẽ chuyển sang một năm mới.
Trên đường phố, đèn hoa đã giăng đầy.
Nơi quảng trường Nhà hát Lớn một sân khấu thật lớn đã được dựng lên với những chiếc loa tưởng như không thể lớn hơn và những dàn đèn cũng như không thể hiện đại hơn nữa.
Anh đang chuẩn bị đón giao thừa một năm mới ở thủ đô- miền Bắc, chỉ là gốc quê của mình nhưng không phải là nơi anh được sinh ra và lớn lên.
Chính vì vậy mà tự trong lòng mình anh vừa như thấy quen quen vì đâu đây những điều thường  nghĩ đang về rất gần... vừa thấy lạ vì tất cả đều chưa phải những gì anh thường thấy và đã sống cùng suốt gần bốn mươi năm qua.
Anh tự hào  và có chút tự tin vì mình có quê ở miền bắc nơi có những cây bàng lá đỏ sẫm mà vẫn tươi giữa mùa đông rét buốt mà suốt từng ấy năm nơi miền nam ấm áp không khi nào anh tìm được, nơi có những câu chuyện văn hóa đầy chữ nghĩa mà không nhiều  người miền Nam hiểu hết những ý tứ trong  từng câu chữ đó ...nhưng lại như có chút lạ lẫm vì mình đâu phải là người miền giá buốt ấy, khi những chiếc áo ấm mua vội và lúc mặc như thấy chả hợp gì với tất cả trang phục từng ấy năm anh vẫn thường dùng.
Những cảm nghĩ ấy chỉ trong lòng mình thôi, còn trên đường phố bây giờ, với chiếc áo choàng có cổ lông ấm áp, chả ai biết anh là người của một miền đầy nắng đang nhâm nhi từng giọt , từng giọt mưa chỉ cảm thấy mà không nhận ra được cũng như cái lạnh  không phải từ ngoài tới mà  từ trong ra, làm ai nấy đều xuýt xoa nhưng lại rất thích thú bởi mỗi người đều đâu có giống nhau sự cảm nhận về cái rét mùa đông Hà Nội!
Kiếm một chỗ ấm áp trên tầng tư tòa nhà ngay sát Hồ Gươm, anh ngồi một mình, nhìn ra mặt hồ qua lớp kính đang có những dòng nước mưa làm thành những nét vô tình như gợi đến những điều mà mỗi người đều có thể đặt nên một cái tên...
Cốc cafe đá hình như cả nhà hàng chỉ mình anh dùng khi trời rất lạnh, đã đưa anh trở lại với nơi anh đã được sinh ra và lớn lên- miền Nam.
Ở nơi ấy, anh có gia đình với sáu anh chị em, nhưng hình như cái gia đình đông đúc ấy từ nếp nghĩ cằn cạn  của cha anh đã khiến sự cần cù chịu khó của mẹ anh không thể đưa anh chị em anh đến những cơ hội khá hơn cuộc đời của ông bà.
Anh là con út, như  xưa thường có câu: giàu con út, khó con út, để chỉ những điều khó lường sẽ đến với những đứa con sau rốt của mỗi gia đình, và anh đã không chờ điều đó đến mà tự tìm để mong đổi thay cuộc đời không những của bản thân mà còn muốn cho cha mẹ cùng anh chị mình bớt đi những điều kham khổ từ cuộc sống được dẫn dụ bởi người cha từng chỉ muốn con mình như mình mà thôi.
Những dòng nước mưa chảy vô định trên kính, đưa anh về những ngày tháng dù đã rất xa, nhưng khôn nguôi trong trí nhớ của anh về những bữa cơm ít gạo nhiều mì, những ngày đi học lội sình ngập đến đùi, quần cột trên cổ...những tháng năm trên nương rẫy dốc đứng mà cha anh chót mua khi còn thiếu kinh nghiệm nên tốn sức mà thu hoạch chẳng được là bao...cùng bao nhiêu điều khác nữa đã khiến anh chị em anh đã bỏ phí  nhiều cơ hội và thiệt thòi hơn là chỉ biết nghĩ đến bát cơm hàng ngày mà không lo được cho ngày mai bao nhiêu, cũng như chỉ xoay xở cho bản thân còn chưa đủ nên cũng chẳng chia sẻ được cho bất cứ ai dù là ruột thịt của mình.



Nhấp ngụm cafe đá giữa trời đông  Hà nội lạnh giá, anh nhớ lại những năm tháng chỉ một mình anh trên đất Sài Gòn, đã phải làm đủ nghề để sống và để học hành.
Những ngày ấy, đã có lúc anh nghĩ sao mình lại khổ đến vậy? sao cha mẹ mình lại sinh ra mình và để mình như thế này đây?
Và oán trách,cùng tủi phận,rồi như bị dồn đến chân tường, anh đã đến được hôm nay sau nhiều năm một mình bươn trải, đắng đót với quyết chí không thể như anh chị và cha mẹ mình.
Anh không thể nhớ cuộc đời mình đã có bao nhiêu dấu ấn đổi thay, bởi tất cả những thay đổi ấy không một lúc mà có.Tất cả đã được nuôi nấng từng giờ, từng phút, lớn dần từng giây qua mỗi cố gắng của anh, qua từng bữa cơm đạm bạc, những đêm làm phu hồ, chạy xe ôm...giữa Sài Gòn thừa thãi sự giàu sang cũng như ê chề cảnh khốn cùng.
Rồi cuộc đời anh cũng thay đổi, không như cha anh chỉ muốn các con làm ruộng theo ông.Bằng ý chí sẽ phải khác ông chứ không chờ ông và nhờ ông giúp, anh đã trở nên một con người khác khi phải từ bỏ nhiều ý nguyện tinh thần cao cả của đời mình.
Lẽ ra, ông phải mừng cho anh và cho chính ông nữa, nhưng trái lại, ông coi anh như một con ngựa bất kham không muốn nghe lời chủ, dù rằng những nước đi của nó đã đưa cỗ xe của  gia đình ông đến đoạn đường không còn khấp khểnh như trước nữa.
Anh chỉ buồn vì điều đó, chứ không vì bất cứ điều gì mà anh đã dành cho cha mẹ và anh chị em mình.Anh đã coi họ là những gì thiết thân của mình, nhưng có lẽ, họ chỉ nghĩ đương nhiên là anh phải vậy.
Đã có lúc anh giận với chính mình.Vì sao mình phải nghĩ nhiều đến mọi người như thế khi đã có ai nghĩ cho mình dù chỉ một phần như mình đã dành cho họ?
Câu trả lời về chuyện đó đã rất tự nhiên đến với anh,vào một ngày anh được biết về một người con lúc đã có cháu mới được ôm lưng người mẹ mình một lần khi  bà lâm bệnh nặng, cùng cuộc đời khó tưởng tượng về những người đã sinh ra ông và đã nuôi dậy ông.
Như mặt trời chỉ có một mà thôi, như mẹ em chỉ có một trên đời...câu hát đó thật tự nhiên, nhưng cuộc đời một con người, mỗi số phận không đơn giản như câu hát, lời thơ...như cuộc đời của ông anh được biết.
Anh đã gặp người đàn ông có số phận không biết gọi là may mắn hay bất hạnh khi ông không hề biết cha mẹ mình là ai, nhưng lại có cha mẹ nuôi thật yêu thương, đùm bọc.Người đàn ông ấy khao khát biết bao về  người cha đã sinh ra mình, nhưng lại thật buồn khi vĩnh viễn không khi nào được gặp mặt nữa.
Ai cũng coi đó là sự bất hạnh cho một cuộc đời,nhưng với ông, sau nhiều trăn trở,ông đã coi sự bất hạnh của mình là một thứ tài sản chứ không chỉ là sự thiếu hụt không thể bù đắp.
Gặp ông rồi trở nên quen biết thâ tình, anh như gặp một người bạn, một người anh, và đôi lúc như một người cha.Anh có thể đùa vui, tâm tình, chia sẻ những điều khó nói của bản thân cũng như trong công việc để tìm thấy ở ông một câu đùa, một lời động viên hay cả một lời trách đầy chất uy-mua.
Nếu ông không cho anh biết về cuộc đời ông qua những câu chuyện đã viết cho riêng mình thì anh những tưởng ông là một người thật tròn trịa, đủ đầy, không hề khiếm khuyết.
Thật tự nhiên, anh đã nghĩ về gia đình mình có đủ đầy mẹ cha, anh chị em, khi anh biết ông đã tự bù đắp cho mình những sứt mẻ, thiếu hụt mà cuộc đời đã dành cho số phận của ông như một sự thử thách.
Ông đã không có đầy đủ như anh về gia đình, cha mẹ và anh chị em, rồi ông đã hàn gắn để ông có một gia đình như thế.
Anh khác ông thật nhiều,nhưng là hơn hay kém ông đây?

Mùa Xuân
Dòng nước mưa ngoằn ngoèo trên tấm kính vẽ lên muôn vàn dấu hỏi mà không có câu trả lời, nhưng ánh đèn từ phía quảng trường đã bật lên làm những nét nước anh đang tưởng tượng đến lung linh thật khác lạ.
Dàn nhạc đã tấu lên những bản tình ca mùa Xuân cho chương trình mừng đón giao thừa làm rộn ràng đường phố và xua đi cái giá lạnh của mùa đông Hà Nội, khi lần đầu tiên anh đón một năm mới ở đất Thăng Long.
Giao thừa!
Trong lòng anh cũng đang có một sự chuyển giao giữa những tháng ngày cũ sang ngày tháng mới,
Giao thừa!
Có lẽ đây cũng là một kỷ niệm khó quên dẫu sau này anh có trở lại mảnh đất này hay còn rất lâu mới quay lại.
Giao thừa! 
Giây phút ấy thật thiêng liêng khi ở chính những giây phút này con người ta nhìn thấy lại mình hôm qua và ngày mai sẽ bắt đầu từ thời khắc tự nhiên mà thiêng liêng ấy .
Cốc cafe đã cạn, anh bước xuống phố hòa vào dòng người đông đúc đang nao nức đón chaò một năm mới hồ hởi và vui vẻ trong giá rét xuýt xoa.
Đa phần họ đi có đôi, có bạn.
Anh chỉ một mình, nhưng anh hài lòng với sự cô đơn lúc này, bởi mấy ai có được sự cô đơn như thế.Cô đơn mà vẫn ấm áp bởi anh đã tìm thấy muôn điều cần có chính từ những giây phút lẻ loi như vậy.
Và, có thể chăng, dù chưa phải lớn lao như bất hạnh, sự đơn lẻ ấy cũng là một thứ tài sản của anh trong giờ phút giao thừa khó quên này?
Anh đã và sẽ còn rất nhiều lần trải qua những thời khắc như thế, mỗi lần một vẻ, mỗi cảm xúc riêng, nhưng hôm nay, giữa trời đông Hà Nội, một người con gốc bắc trở về cố đô, xuýt xoa trong cái rét, đã tìm lại cho mình chút hơi ấm của một miền quê chỉ có trong tâm tưởng, qua cảm nhận từ hương vị của đất trời, của tình người miền bắc, như lạ mà quen, như thật xa mà lại rất gần....



Thứ Bảy, ngày 23 tháng 11 năm 2013

Đặt tên cho lỗi lầm

Cô gái ấy chùi vội hàng lệ khi cúi xuống tránh gặp lại ánh nhìn của anh, dù trước đó hàng giờ trên đôi mắt kia đã như một biển nước chỉ chực trào ra khi một cơn gió nhẹ lướt đến.
Cơn gió ấy đến khi anh hỏi :Có thật cô không còn rung động khi đứng trước một người đàn ông nữa?
Cơn gió ấy đã cho anh câu trả lời dù không một câu chữ, dù không cả âm thanh, mà lại hơn mọi cách trả lời nào khác....
Anh không muốn gọi người phụ nữ ấy là người đàn bà, bởi cô còn khá trẻ, dù cô đã có con, có chồng và khá đằm thắm với khuôn mặt dù không nổi trội những nét kiêu sa nhưng  như được bù lại bằng những nét duyên thầm, anh còn thấy ở cô một sự chín chắn trong cách nói chuyện từ tốn, chầm chậm mà sâu sắc đến từng câu chữ khi chọn được những từ thật chính xác cho  những cảm xúc hay những sự việc của câu chuyện này.Nếu không biết, có thể nhiều người đàn ông, thậm chí các chàng trai nữa còn có thể nhìn trộm cô khi bất chợt thoáng thấy trên đường phố Sài Gòn.
Anh biết cô trong một lần triển lãm sách ở thành phố này cách đây hơn bốn năm.Hai người như những đồng nghiệp của nhau sau lần đó, nhưng cũng chỉ như vậy với khoảng cách địa lý từ hai đầu đất nước cũng như anh hơn cô đến hơn hai chục tuổi.
Lần này gặp lại ở thành phố này, chỉ với lý do cô muốn đi thăm thú một vài nơi ở Hà Nội trong quỹ thời gian có hạn của mình, và cô nghĩ đến anh, dù đã khá lâu rồi chỉ qua điện thoại để nghe được giọng nhau, còn gương mặt cũng khó hình dung sau chừng ấy năm...
Thật may, anh cũng vừa lên xe  hưu, như anh thường đùa vậy, nên thời gian cũng dư dả khi các cháu trong giờ ở trường học cả hai buổi, nên họ đã có những giờ bên nhau là hai chú cháu, lại như hai anh em với tình thân đồng nghiệp.
Anh cho phép cô gọi là anh cho dễ xưng hô, nhưng chỉ sau vài lần gượng gạo, cô đã gọi anh là chú khi nào anh cũng không nhớ được nữa.
Những buổi đi đây đó như vậy trên đường phố hay những thắng cảnh, di tích của Hà Nội cuối cùng lại dẫn đến câu chuyện hôm nay của hai người.
Cô kể cho anh về cuộc sống riêng hiện tại của cô và đứa con nhỏ và người chồng đã ly thân đang chờ ly dị.
Cũng như muôn vàn những bi kịch gia đình anh đã từng biết, từng nghe, từng đọc, gia đình cô không còn hạnh phúc khi qua rất nhiều nỗ lực với hơn hai năm chung sống, và họ đã chọn cuộc chia tay để kết thúc chặng đường đã đi chung thật ngắn ngủi.

Người nêu ra cách kết thúc ấy không phải là cô mà là chồng cô.
Chàng trai ấy đã đến với cô như một ân nhân dù cuộc hôn nhân có phần vội vàng khi cô đã mang thai với anh và anh thì đang ở thời điểm muốn kết thúc thật nhanh cuộc sống đôc thân của một chàng trai đã gần bồn mươi tuổi.
Cô đã kể với người chồng tương lai về một tai nạn trước lúc gặp anh nên không còn là con gái nữa.Chồng cô đã chấp nhận dù cô biết anh không vui, nhất là lúc biết hai người đi đến hôn nhân khi đã có kết quả của tình yêu hơn hai tháng, mẹ cô đã trách, nhất là anh về lễ giáo, khi chính bà cũng không hề biết con gái bà đã không nguyên vẹn khi đến bên anh.
Anh ấy  buồn cả về chuyện này.
Nhưng đó không phải là lý do chính để họ không thể sống chung được với nhau.
Ngày anh đặt cô ở tình huống khó khăn này, cô mới thấy mình đang trên bờ vực của sự tan vỡ là đương nhiên, nhưng còn là vực sâu của một cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà từ trước tới nay cô chưa từng trải nếm.
Cha mẹ cô nay đã già rồi, dù họ là những người giỏi giang, có tri thức nhưng đã không có cách truyền lại cho cô những điều đã tạo nên cho gia đình cô một cuộc sống ổn định và khá giả, nên khi có một gia đình riêng, cô chỉ biết trông vào người chồng thật giỏi giang và chỉn chu với mọi người trong gia đình, nhưng cũng chính từ sự chu đáo ấy của anh gặp sự ích kỷ được tạo nên từ cuộc sống đủ đầy trong gia đình cô, mà cô luôn thấy mình như không còn là của riêng anh, như anh chỉ coi trọng gia đình cùng cháu con anh mà quên rằng cô mới là người cho anh hạnh phúc gia đình.
Và cô đã không chấp nhận như thế, bởi cô đã là vợ anh, sinh con cùng anh, thì cô phải có quyền với anh,  biết tất cả những gì anh được hay không được dành cho gia đình lớn của anh, dù cô chưa kiếm ra đồng nào cho gia đình đó.
Kể lại với người bạn Hà Nội những ân hận của mình trong một chiều lành lạnh bên bờ Hồ Tây cuối thu, cô gái ấy như đang soi lại mình trên tấm gương đẫm nước mắt.Cô đã thấy những điều mình được và mất, khi nhớ lại những đêm chồng cô chuẩn bị những vòng hoa tự tay mua về, kết lại cho đám cưới ấy, và cô lên xe hoa rạng rỡ với gia đình, bè bạn, tất cả toàn một tay anh lo toan , sắm sửa, bởi chính anh đã nói với cô về ước ao của anh về đám cưới  ấy sẽ phải như một lời cảm ơn gia đình,cuộc đời và số phận đã cho chồng cô một cuộc đời mà anh ấy phải trả giá rất nhiều mới có được.
Anh ấy đã vui mừng và hạnh phúc khi đã làm được điều mình mong muốn, nhưng lại không giữ được lâu trong tay mình.Anh ấy đã giận cô khi cô  không chỉ một lần ngừng lại việc lục tìm những chứng cớ vu vơ trong đồ đạc của anh về chuyện tình cảm nơi công sở hay chi tiêu với gia đình,mà với anh đó là điều không được phép tối thiểu.
Giờ đây, cô ân hận vì đã tự cho mình cái quyền đó, mà không biết mình đã tự đánh mất đi cái thứ mình đáng được tôn trọng, nhưng cô còn biết là anh đã không thể còn ấm áp khi bên cô được nữa, khi nhiều việc tương tự vẫn cứ diễn ra, trùng lặp và ngang nhiên như vậy.

Chiều Hồ Tây như lắng lại tất cả những cơn gió lạnh đầu mùa nơi hai người ngồi trò chuyện.Cô chợt thấy run lên như không thể dừng lại, khi kể lại với người bạn mình về những gì đang phải trải qua, gánh chịu mà không thể bao biện bằng cách nào, lời nào được nữa.
Và cô đã nấc lên khi nói với anh rằng, anh ấy- chồng cô- đã không cho phép cô quay lại căn nhà ấy.
Anh ấy chỉ lo cho con anh đầy đủ về mọi thứ.
Anh đã xa mẹ con cô không phải vì anh đi tìm một người con gái khác, hạnh phúc khác, mà anh ấy đã không thể gần được nữa - ít nhất là ở thời điểm này- với những người mà những người đàn ông bình thường  không ai có  thể thiếu trong đời.
Khi cô biết được điều đó từ chính anh nói ra, cô không tin rằng mình đã làm anh từ một con người thắm thiết, bao dung đến thế nay lại trở nên một người cực đoan đến thế.Cô vốn chỉ cho rằng cái tính đàn bà cùng những thói vặt vẵn ấy, nhà nào chả có rồi cũng qua cả thôi, có sao đâu.
Mà sao với anh thật nặng nề!
Thật khó khăn!
Ngồi trước mặt một người con gái đằm thắm thế, duyên dáng thế, nước mắt giờ đây đang đầm đìa không biết vì đang ân hận hay lo cho số phận mình, chính người đàn ông đó, dù đã từng chia sẻ, khuyên bảo cho nhiều đôi tương tự, nay chưa biết khuyên cô ra sao khi từ cô đã kể ra những điều cô không nghĩ tới mà đã diễn ra, lặp lại đến nông nỗi này.
Anh có thể nói gì khi nghĩ đến người chồng kia đã phải quên đi chẳng những cô mà cả những mối tình đã từng có, hay sẽ có nữa chăng?
Anh ấy liệu đã từ bỏ những khát khao về một mái ấm gia đình có vợ chồng con cái và quên đi cả thiên chức của mình chăng?
Anh ấy sẽ làm sao để có được một cuộc sống như muôn vàn những người đàn ông khác?
Anh ấy sẽ là ai trong những tháng năm tiếp theo?
Cuộc hôn nhân này là gì đây?Tội lỗi từ ai?
Có ai có thể gọi lên một cái tên cho những lỗi lầm kiểu như thế?


Cố gái đã kể cho anh nghe về nỗi niềm của cô, về nguyên do của sự tan vỡ, về những ân hận của cô, về những khắt khe của người chồng quá chu đáo nhưng lại khó thông cảm cho những thói vặt đàn bà của cô..., nhưng anh như không nghe thấy nữa, bởi trong đầu  anh đang nghĩ đến người đàn ông kia ngày mai thôi  hay đã từ lâu rồi không còn mặn mà với tình cảm đôi lứa, đến xác thịt đàn bà, và đến cả những đứa trẻ do chính minh sinh ra?
Anh không ngờ là trên đời lại có những con người mẫn cảm đến cực đoan như vậy, dù biết rằng người đàn ông ấy đã dành cho người vợ đầu tiên của mình tất cả những đam mê,hy vọng và cả chút tự hào chưa bao giờ nói đến.
Nhưng cô đã không chỉ làm cho anh mất hết những gì là hy vọng, và đam mê ấy, cô còn đẩy anh đến bờ của sự tuyệt vọng không còn chút cảm xúc nào khi nghĩ đến chuyện tổ ấm gia đình và những đứa con.
Bờ Hồ Tây trong những chiều Hà Nội đầu đông, là nơi người ta tình tự với những khoảnh khắc khó quên của đời người thời xuân sắc....
Vậy mà hôm nay, anh lại được nghe về một chuyện tan vỡ lứa đôi, về một người đàn ông không còn chút hy vọng về những người đàn bà, nếu như không nói rằng anh ấy sợ cuộc sống chung với họ.
Đó là người thật khắt khe khi bị tổn thương quá lớn?
Đó là người không thể chấp nhận sự xúc phạm và tha thứ cho những điều làm anh đau đớn?
Đó là người thật mạnh mẽ khi trở thành vô cảm với đàn bà, hay là nạn nhân từ những tổn thương do họ đã gây nên?
Anh ấy không còn nghĩ đến hạnh phúc riêng mình nữa chăng, và đã lạnh đi rồi những khát khao dục vọng và sẽ không bao giờ có cả những thiên thần bé nhỏ của mình?
Sự ăn năn, hối tiếc qua lời tâm tình của cô gái ngồi trước mặt, với anh, giờ như đã đóng băng.Tâm trí anh đang đặt anh vào tâm trạng của người đàn ông đã từng  là chồng cô mà nay không còn muốn ai là vợ mình nữa.
Anh ấy yếu đuối hay mạnh mẽ?
Anh ấy cực đoan với bản thân hay bao dung đến mức hy sinh cả những xúc cảm của mình?
Đã có một chiều đông Hà Nội như thế, không còn những bụi mưa bay trên mặt hồ nhưng những con sóng nhỏ vẫn không ngừng đập vào bờ kè tiếng thở than muôn thủa về câu chuyện của sóng nước, của những đàn sâm cầm tìm nơi trú thân, của những đóa sen muộn trên những tán lá đã úa vàng trên mặt hồ có đôi ba xác cá trắng lập lờ cỏ rác, như muốn trút dâng nét thanh tao cuối mùa hoa dấy lên từ đáy hồ.....,
Và... như cuộc đời ...
....vẫn như ngày xưa...


Thứ Bảy, ngày 26 tháng 10 năm 2013

Số báo danh 1811

Chốn thanh bình

Họ là hai người bạn học cách đây đã hơn bốn chục năm, và chênh lệch nhau đôi ba tuổi, chỉ chung con số lục tuần.
Hôm nay người lớn tuổi hơn tự tay lái xe chở anh đi đến khu Đại Nam, một thắng cảnh mới xây dựng ở Bình Dương thay cho cuộc hẹn đi Vũng Tàu hôm trước khi anh mới đặt chân đến Sài Gòn.
Không phải vì Vũng Tàu anh đã quá quen thuộc và khu Đại Nam này thì chưa biết đến, mà ngay khi người bạn nêu ý định:"Sáng mai tôi lái xe đưa ông đi chơi, chỉ hai thằng mình", anh đã đề nghị cho đi khu Đại Nam kia, với lý do là chưa biết tới, nhưng trong lòng đã thầm nhủ rằng, không phải tự nhiên mà có chuyến đi này,khi bạn anh luôn bù đầu vì công việc.
Tuy nhiên trên suốt đoạn đường đi, hai người chỉ nói những câu chuyện  về bè bạn, về những kí ức thời học sinh xa xôi lắm rồi nhưng vẫn còn hôi hổi với biết bao câu chuyện để nói tới, biết bao tính cách mà đến giờ đây nhìn lại người ta mới thấy hình như tính tình  mỗi người cũng đã thể hiện từ khi còn niên thiếu....
Trên đường về, ngoài việc ngâm ngợi vẻ hùng vỹ cũng như cùng đồng cảm với mốt thời thượng hiện hành của những người" ăn nên làm ra" đang có xu hường lấy cõi tâm linh vừa như để đãi đằng thiên hạ, vừa như là để làm điểm tựa cho những bệ phóng mới...thành thử không thoát được những cái "lố" trong bài trí, kệch cỡm trong câu chữ, hay lộ ra những ý đồ cá nhân mà không khó gì để nhận ra khi dạo quanh khu thắng cảnh này.
Nhưng bây giờ là thời của những người có tiền và có rất nhiều tiền, nên đến đây ai ai cũng phải trầm trồ: phải tốn nhiều tiền của lắm đây!
Đúng như vậy, nên mặc dù có ý đồ chi chi , người dân cũng đã có một nơi để thư giãn, thăm thú, thưởng ngoạn và là nơi để người ta bình luận những gì là triết lý trong cõi nhân gian, mà đôi khi những lời bình uyên thâm ấy chỉ để người bình tự nghe mà thôi.
Ở độ tuổi của hai người đàn ông này, ai cũng có thể biết rằng những gì đang diễn ra, hoặc những gì đã qua rồi trên mảnh đất này sẽ rất nhanh chóng rơi vào quên lãng.Và nếu chỉ quên đi có khi lại còn may mắn hơn sự tồn tại nhưng không còn như sự thật đã vốn có.
Phải chăng là như vậy nên trong bữa cơm trưa khi đã vãn, người bạn đã hỏi anh một câu:
- Ông thấy chuyện hiến xác sau khi chết thế nào?
Tất nhiên là anh không thể trả lời một cách dứt khoát YES or NO, bởi đã khi nào anh nghĩ về chuyện đó đâu, và cũng chỉ nghe phong thanh, chứ cũng chưa biết thực sự sẽ là gì, sẽ ra sao và sẽ thế nào về những người đã tự quyết định số phận mình sau khi qua đời ngay lúc họ đang còn sống.
Anh trả lời bằng một câu hỏi để dãn ra và che dấu sự lúng túng của mình:
-Ông nghĩ đến chuyện đó cho ai vậy?
- Nghĩ cho ai được, cho chính mình thôi!
- Thật à?Nghiêm chỉnh đấy chứ?
- Nói chuyện này, đùa thế nào được, mà với ông là tôi chả dấu.
-Lý do là sao?
- Ông nghĩ tôi muốn trở thành vĩ nhân khi nằm xuống à?
- Không phải, nhưng phải có một lý do gì để ông có ý định khác thường đấy chứ?Mà ông mới dự định thôi hay đã....?
- Còn dự gì nữa, tôi và vợ tôi cùng đăng ký rồi, có số báo danh hẳn hoi, luôn để trong ví mang theo người.
Rồi người đó kể cho anh nghe quá trình từ khi nảy ra ý định hiến xác cho y học sau khi qua đời đến khi chính thức làm thủ tục cho quyết định đó với trường Đại học Y thành phố.
- Ông ăn cơm nữa đi! người bạn nhắc
Bữa cơm đơn giản với những món quê mùa nhưng rất đậm đà và ngon miệng từ đầu bữa.Khung cảnh của nhà hàng bạn anh chọn  gần gùi thiên nhiên và làng quê với ao cá, mái tranh xen ngói đỏ và um tùm cây xanh rủ bóng cùng tiếng nhạc khoan thai, nhẹ nhàng của những bản tình ca thời tiền chiến...
- Tôi cũng đủ rồi, cơm hôm nay ngon quá.
Nhưng thực sự anh không thể dùng tiếp được khi người bạn kể cho anh câu chuyện này.
Người bạn nói tiếp cho anh về động cơ của việc anh ấy đã chọn cho mình khi sẽ hiến bốn lần thân xác mình sau khi qua đời...
Anh chỉ nghe mà không nói được lời nào, bởi anh hoàn toàn mù tịt về chuyện này, dù biết rằng ý nghĩa của việc hiến xác thật cao quý, nhưng vẫn không thể thấy đó là tấm gương có thể noi theo.
- Ông chưa thể hiểu được chuyện này có ý nghĩa gì với tôi đâu nhỉ? người bạn nói
- Tôi chỉ biết đó là một việc đáng quý trọng với ngành y như những lời kêu gọi...
- Ờ , ai mà chả nêu ra những ý nghĩa tốt đẹp cho một hành vi thật khó thực hiện.Nhưng tôi không phải vì chuyện đó, cũng càng không phải muốn lưu danh trong cuốn sổ hiến xác của ngành Y.Chỉ là tôi nghĩ khi chết đi rồi, mình có còn là gì nữa đâu mà cần gìn giữ cho tốn tiền của, thì  giờ của người thân ...
- Vậy mà ông lại bỏ rất nhiều tiền để họ hàng ở quê ông ngoài Bắc quy tụ tất cả các cụ về một nơi thật đàng hoàng?
- Đó là tôi chiều theo ý nguyện, không phải, theo đòi hỏi  của họ hàng nhà tôi mà thôi.Gia đình tôi ngoài đó chẳng biết tôi trong này làm ăn vất vả gian nan hàng chục năm nay ra sao, chỉ biết mỗi việc cử một người vào đây và nói rằng; chú phải lo cho "họ" từng ấy, từng ấy...để làm việc kia, việc nọ.Ông có từ chối được không?
- Ông đã lo được cho cả họ, còn phần ông lại chẳng muốn nhờ ai?
- Đúng vậy.Những người đã khuất đâu có ai đòi hỏi gì cho mình nữa, chỉ những người còn sống đòi hỏi giúp họ đấy chứ.Nhân danh họ để lấy phúc cho mình mà, còn cả cuộc đời có khi chẳng làm nên chuyện gì cho chính mình nữa.
- Có chuyện đó thật và nhiều nữa là khác, nhưng mình có quyền để cho cháu con mình thờ phượng chứ?
- Quyền chi khi đã nằm xuống trở về với cát bụi?Còn người sống có nhớ đến là tự lòng người ta, làm gì có quyền bắt ai nghĩ đến mình khi tự họ không hề muốn nhớ?Ông cứ nghĩ mà xem.
- Rồi cháu con họ hàng có khi lại trách là ông đã không để cho họ được thờ phượng ông?
- Tôi đã làm cho họ nhiều điều có cả những điều mình không hề muốn khi còn sống, còn thấy, mà còn chưa được lời cảm ơn thật sự.Vậy sự thờ phượng khi mình đã ở thế giới bên kia liệu có cần nữa không ?
- Nhưng đó là truyền thồng của người Việt mình.Anh chống trả yếu ớt.
-Đành là như vậy, nhưng ông có thấy rằng chỉ lương tâm của mỗi người mới đánh giá được bản thân không?Còn mọi thứ, nhiều khi chỉ là vải thưa che mắt thế gian...
Anh không thể nói thêm trước lý lẽ rất thực tế và có lẽ có cả những đau xót khó nói lên lời của cuộc đời người bạn khi anh ấy đã tự quyết cho mình như vậy.

Hồi tưởng lại, bạn anh đã có một gia đình với bốn người con, hai trai, hai gái ngoan ngoãn và giỏi giang cùng người vợ đằm thắm, nhẹ nhàng như anh đã gặp cách đây vài năm.
Nhưng không ró vì lý do gì, gia đình ấy đã tan vỡ. Bạn anh ra đi một mình, rồi có vợ khác khi đã ở lục tuần.Anh ấy mua nhà cho  các con trai, chúng nhận nhưng không ai đến ở, chỉ ở với mẹ.
Không tiện hỏi về chuyện tan vỡ này, nhưng không thể không thắc mắc trong lòng vì sao nên nỗi ấy, khi đã nhiều lần người bạn  rất tự hào nói về vợ con với anh khi họ cùng  ngồi chung mâm cơm gia đình ở Sài Gòn này.
Lần gặp này, anh cũng không hề dám hỏi, nhưng câu chuyện người bạn đã chia sẻ hôm nay khiến anh nghĩ đến một kết cục của một thân phận dù rất giỏi giang, tử tế nhưng không kém phần bất hạnh.
Điều bất hạnh ở đâu, từ đâu có lẽ không thể phán đoán.Nhưng số phận một con người chỉ cho đi mà không hề muốn nhận lại ở bất cứ ai, kể cả vợ con mình những điều thương nhớ, tưởng niệm...liệu có yên ổn khi nghĩ rằng đó là điều ít phiền đến người thân nhất?
Vâng, chỉ là những suy nghĩ của riêng anh mà thôi, còn bạn anh rất thanh thản và vui vẻ khi cho anh biết, anh ấy đã có số báo danh ở phút cuối cuộc đời mình ngay từ bây giờ rồi.
Con số 1811.

Vĩ thanh:Tại sao những người nổi tiếng,khi chết đi thi thể không toàn vẹn?

Tổng thống Mỹ John F. Kennedy
Những người theo thuyết âm mưu thì giả định rằng điều này chứng tỏ rằng JohnF. Kennedy không bị Lee Harvey Oswald bắn từ phía sau, mà từ phía trước trán.
Giả thuyết mới đây nhất nhằm giải thích cho việc này lại không mấy hấp dẫn.Tác giả của cuốn sách mới viết về vụ ám sát Tổng thống Kennedy là James Swansoncho rằng bộ não của ông đã bị em trai là Robert giấu đi, 'có thể là để che đậychứng cứ cho thấy tình trạng bệnh tật thật sự của Tổng thống, hoặc cũng có thểlà để che dấu chứng cứ cho thấy số lượng thuốc mà ông đã dùng'.
Tuy nhiên, Kennedy chỉ là một trong số nhiều người nổi tiếng mà các bộ phậntrên cơ thể không toàn vẹn sau khi qua đời.
Nhà khoa học Albert Einstein
Từ lâu, việc sở hữu não bộ vẫn luôn là niềm ưa thích của những ai muốn nghiêncứu về bí mật của trí tuệ và quyền lực. Sau khi nhà khoa học Albert Einstein mấtnăm 1955, bộ não của ông đã bị nhà nghiên cứu bệnh học Thomas Harvey lấy đi.Phần lớn não của Einstein đã bị cắt nhỏ làm hàng trăm phần, và rất nhiều trongsố các phần đó đã bị mất cắp.
Đầu của nhà soạn nhạc Joseph Haydn đã bị hai người đàn ông đánh cắp từ ngôimộ của ông, chỉ vì họ quan tâm tới não tướng học. Họ tin rằng nhìn từ hình dángvà kích thước của đầu có thể cho thấy sự sáng suốt của người đó.
80 năm sau cái chết của nhà soạn nhạc, xương sọ của ông được đưa tới Hội Bèbạn Âm nhạc tại Vienna.
Nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven
Khi Ludwig van Beethoven mất chỉ vài năm sau Haydn, cũng có nhiều người longại tình trạng tương tự xảy ra khi một người phu đào mộ tuyên bố rằng có ngườiđã đề nghị trả ông ta hàng đống tiền để 'đặt cọc lấy đầu của Beethoven ở một nơinào đó'.
Mặc dù vậy, thi hài của nhà soạn nhạc vĩ đại cũng không thể bình an vô sự.Trong quá trình khám nghiệm tử thi, một bác sĩ đã lấy xương tai của nhà soạnnhạc, một đám tóc bị cắt cụt, và khi mộ của ông được khai quật vào cuối nhữngnăm 1800, một số mảnh vỡ ở sọ của ông cũng bị lấy mất.
Thi hài của Hoàng đế Napoleon Bonapart cũng không còn nguyên vẹn. Phần ruộtđược cho la của ông đã bị tiêu hủy tại London trong một cuộc chiến. Nhưng bộphận sinh dục của ông được cho là hiện đang do con gái của bác sĩ tiết niệu JohnLauttiner sở hữu. Vị bác sĩ này ở bang New Jersey và đã mua phần cơ thể này củaNapoleon trong một cuộc đấu giá năm 1977.
Trong một số trường hợp, các phần thi hài lưu lạc này lại xuất hiện trở lạinhiều năm sau đó. Vào năm 2009, hai ngón tay và một chiếc răng của Galileo đãđược tìm thấy trở lại. 95 năm sau cái chết của nhà thiên văn học, các ngón tayvà răng của ông đã được đưa trở lại Bảo tàng Galileo tại Florence để đoàn tụ vớithi hài của người quá cố.
Lê Thu (theo SCMP)